Tranh thêu tay-mai lan cúc trúc-t112

Giá: 4.900.000 VNĐ

Mã sản phẩm: T112

Kích thước: 88*192 cm

Tình trạng: Còn hàng

Chi tiết

ý nghĩa tranh bộ bốn mùa

 Tứ quân tử: Mai, Lan, Cúc,Trúc
Tứ quân tử: Mai, Lan, Cúc, Trúc trong tranh TQMai, lan, trúc, cúc là đề tài quen
thuộc trong hội họa Trung Quốc. Bốn chủng loại này đều có tính cách cao
nhã. Mai nở vào mùa đông và xuân, chịu đựng lạnh lẽo. Lan kiều diễm
mảnh mai, hương thơm thâm trầm. Trúc ngay thẳng, vô tâm, đầy tiết tháo.
Cúc trải sương giá mà chẳng héo hon, có ý chí thách đố thiên nhiên. Thế
nên các văn nhân Trung Quốc ái mộ mà đặt tên cho bốn loại này là Tứ
quân tử.Hơn hai ngàn năm trước, thi nhân
Khuất Nguyên đã so sánh hoa lan với mỹ nhân rằng: «Thu lan hề thanh
thanh, lục diệp hề tử hanh. Mãn đường hề mỹ nhân, hốt độc dữ dư hề thả
thành.» (Thu lan ơi mườn mượt, cọng tía cùng lá xanh. Đầy nhà toàn
người đẹp, riêng với ta đưa tình.)Hoa cúc trác việt siêu phàm. Đào
Tiềm, thi nhân đời Tấn, từng thốt rằng: «Thu cúc hữu giai sắc, ấp lộ
chuyết kỳ anh, phiếm thử vong ưu vật, viễn ngã di thế tình.» (Hoa cúc
mùa thu có sắc đẹp, phơi lộ nét anh tú, khiến ta quên tình buồn, lánh
xa tình đời.)Đời Tống có ẩn sĩ Lâm Bô yêu hoa
mai đến độ không cần có vợ con, chỉ chuyên tâm trồng hoa mai và nuôi
hạc. Người đời tặng cho ông câu «mai thê hạc tử» (hoa mai là vợ, chim
hạc là con).
Yêu trúc có thể kể đến Tô Thức. Ông
nói: «Ninh khả thực vô nhục, bất khả cư vô trúc.» (Thà ăn không có thịt
chứ không thể ở thiếu trúc). Như vậy đủ biết địa vị của trúc được đề
cao như thế nào và các tao nhân mặc khách đều xem trúc là người bạn
đường không thể thiếu được.Trúc mai : «Trúc là quân tử, mai là giai nhân.» – tranh của Thạch Đào đời Thanh
Các họa gia cũng có cảm tình sâu đậm
với tứ quân tử. Mai, lan, trúc, cúc và hội họa Trung Quốc quả có cái
duyên không lìa. Trải bao tháng năm lịch sử, nhiều họa gia hậu bối đã
cải tiến họa pháp, thể hiện nhiều nét tân kỳ bất tận.Chủ đề tứ quân tử có tự bao giờ vẫn
là vấn đề còn tranh cãi. Theo quyển Thập Quốc Xuân Thu Ký một vị tướng
quân của triều Nam Đường tên là Quách Sùng Thao khi chinh phạt nước
Thục đã bắt nhiều người. Trong số ấy có Lý phu nhân bị ông ép làm vợ.
Lý phu nhân thường u sầu ủ rũ, thích ngồi một mình dưới trăng, ngắm
cành trúc la đà. Do xúc cảm, bà dùng bút và mực đen vẽ nên tranh. Người
ta cho rằng mặc trúc (trúc vẽ bằng mực đen) bắt đầu từ dạo ấy. Nhưng vị
tất mặc trúc bắt đầu từ Lý phu nhân. Người ta biết chắc chắn tranh hoa
điểu bắt nguồn từ đời Đường vậy thì bảo mặc trúc có từ Hậu Đường cũng
có thể tin được.Mai, lan, trúc, cúc bước vào hội
họa chẳng qua vì chúng hàm hữu ý vị tượng trưng văn học, tiêu biểu đức
hạnh của người quân tử. Đời Tống có Văn Đồng, Tô Thức nổi tiếng về mặc
trúc, Thôi Bạch với mặc mai, Trịnh Tư Hữu, Triệu Mạnh Kiên với mặc lan,
cho đến Triệu Xương, Hoàng Cư Bảo với mặc cúc. Tất cả nhưng danh họa
gia này đã vun xới một mảnh đất, khai phóng một con đường giúp cho hội
họa các triều đại kế tiếp được phát triển dễ dàng.

Trúc – tranh của Từ Vị đời Minh
Vào đời Nguyên mặc trúc đã thịnh hành
với các danh gia như Cao Phòng Sơn, Lý Tức Trai, Kha Cửu Tư, Nghê Vân
Lâm, Ngô Trọng Khuê, Cố Định Chi, Triệu Mạnh Phủ, Quản Trọng Cơ, v.v…
Đặc biệt, Lý Tức Trai đã thâm nhập một ngôi làng trúc, nghiên cứu mọi
tư thế của cây trúc, viết thành một quyển sách để đời gọi là Trúc Phổ.
Kha Cửu Tư biên soạn quyển Họa Trúc Phổ nghiên cứu họa pháp về trúc đời
Tống, có thể xem là sách gối đầu giường cho người sơ học.
Trúc – tranh của Ngô Trấn đời Nguyên

Đến đời Minh, tranh mai, lan, trúc,
cúc cực thịnh, danh họa gia cũng nhiều như Tống Khắc, Vương Phất, Hạ
Xưởng, Lỗ Đắc Chi, v.v… Nổi tiếng nhất là Hạ Xưởng. Ông tự Trọng Chiêu,
bắt đầu học vẽ trúc và đá nơi Vương Phất. Về sau ông tự cải tiến lối vẽ
trúc: thân trúc thẳng tắp ngạo nghễ, có sắc khói sương, chỗ đậm chỗ
nhạt chỗ xơ xác cực kỳ ảo diệu. Thuở ấy có câu ca: «Hạ hương nhất cá
trúc, Tây lương thập đĩnh kim.» (Một cành trúc nơi quê ông Hạ Xưởng trị
giá mười nén vàng ở Tây Lương).
Danh gia tiêu biểu về mặc mai có Vương
Miện và Trần Hiến Chương.Vương Miện tự là Nguyên Chương vẽ mai thướt
tha tiêu sái nổi tiếng đương thời. Vương Miện và Hạ Xưởng là cặp danh
gia lừng lẫy; một người về mai, một người về trúc.

Các họa gia đời Thanh vẫn tuân thủ
họa pháp đời Minh. Nổi tiếng là Thạch Đào và Bát Đại Sơn Nhân, hai di
thần triều Minh. Khi Mãn Thanh lật đổ nhà Minh, Bát Đại Sơn Nhân giả
điên giả câm chạy trốn vào núi lánh nạn, một thời làm hòa thượng, một
thời làm đạo sĩ. Bát Đại Sơn Nhân thuộc giòng dõi hoàng tộc, tên là Chu
Đáp. Bút hiệu của ông ngụ ý sâu sắc: Sơn Nhân có nghĩa là người ẩn dật
nơi sơn dã, còn Bát Đại 八大 khi viết thảo theo hàng dọc, chữ bát 八 thành
hai chấm đè lên chữ đại 大, chúng gần giống chữ tiếu 笑 (cười) hay chữ
khốc 哭 (khóc), bày tỏ tâm trạng dở khóc dở cười. Ông dùng hội họa để
tiêu sầu, họa pháp chủ về tả ý, đơn sơ mạnh bạo nhưng sống động, chất
chứa nỗi lòng u ẩn. Họa pháp của Thạch Đào và Bát Đại sơn nhân phóng
túng tiêu sái không tuân theo những qui tắc sẵn có, nên có thể đứng
riêng thành một tân họa phái. Ngoài ra có thể kể thêm một số danh họa
gia đời Thanh như Trịnh Tiếp nổi tiếng về lan trúc, Lý Phương Ưng, Kim
Nông, Uông Sĩ Thận nổi tiếng về mặc mai. Các họa gia cận đại như Triệu
Huy Thúc, Ngô Xương Thạc, Tề Bạch Thạch sáng tạo nhiều nét tân kỳ có
thể gọi là cao thủ về mai, lan, trúc, cúc.

Lan – tranh Kim Nông (1687-1764)

Tứ quân tử chiếm một vị trí đặc
biệt trong hội họa Trung Quốc. Qua từng thời đại các danh họa gia đã
góp phần sáng tạo và thể hiện tứ quân tử thêm tân kỳ. Ngày nay các họa
gia Trung Quốc đã mạnh dạn thâu hóa họa pháp Tây phương. Môn họa truyền
thống này sẽ phát triển như thế nào vẫn còn là vấn đề thú vị mà người
ta chưa tiên đoán được.

Sản phẩm cùng danh mục

Nhận xét